Câu chuyện 5B Ngày 17-7-1997, UBND TPHCM ký quyết định nâng cấp CLB sân khấu thể nhiệm thành hí trường kịch sân khấu nhỏ (còn gọi sàn diễn nhỏ 5B). Năm 1998, Nghị quyết Trung ương 5 - khóa 8 ra đời và nhanh chóng trở thành kim chỉ nam cho hoạt động của sàn diễn nhỏ 5B khi đó. Dưới sự tương trợ mạnh mẽ của TP, hàng loạt sự kiện lớn của sân khấu TP đã diễn ra tại đây, như Tháng liên hoan sân khấu nhỏ lần 1 (1992), lần 2 (1993). Trở thành đơn vị tiên phong với những vở kịch tạo tiếng vang lớn, thẳng tuột duy trì 12-14 vở, mỗi đêm diễn 1 vở khác nhau. Trong đó, có nhiều vở kịch trở nên hiện tượng lớn của sân khấu trong nước như Dạ cổ hoài lang, vở mà khán giả phải xếp hàng mua vé từ trước 1 tháng. Theo NSƯT Thanh Hoàng, người điều hành sân khấu 5B, có được thành tựu đó nhờ sự đồng lòng của nghệ sĩ và sự đồng bộ trong công tác chỉ đạo, quản lý của nhà nước. Bắt đầu từ cuối 2003 đến 2008 nhiều “tinh hoa” từ 5B tách ra làm sàn diễn riêng trên cơ sở doanh thu, lợi nhuận. Những sàn diễn này cũng không còn lệ thuộc vào Hội sân khấu TP và một số đơn vị đã thực hành những vở diễn hướng đến nhu cầu dễ dãi của khán giả và tập trung đốn vào mục tiêu giải trí. Thời đoạn 2008-2013 là thời gian những vở kịch khai khẩn đề tài đồng tính, ma quỷ, kinh dị… xuất hiện đều đặn và dày đặc, đáng báo động. Trong khi đó, sân khấu nhỏ 5B vẫn kiên trì với hành trình của mình với những vở kịch hướng đến những giá trị tốt đẹp nhất, hướng đến đích phục vụ cộng đồng. Thế nhưng, cơ sở vật chất của cơ sở 5B càng ngày càng xuống cấp đã ngăn trở khán giả đến với sân khấu. Thậm chí, dự án làm cầu thang máy phục vụ khán giả, sân khấu 5B đã tự thân vận động, dự án đã có, kinh phí các nhà hảo tâm đã chuẩn bị xong, thế nhưng đã 3 năm qua vẫn chưa thể làm được do vướng cơ chế. Việc trình diễn cũng thế, như vở Điều ước linh đơn vị tự chạy nguồn kinh phí thực hành, phục vụ các trường học, bệnh viện, xí nghiệp… được đánh giá cao, tạo dư luận hăng hái. Theo yêu cầu của TP, 5B nối phục vụ thêm 20 suất miễn phí, quốc gia tương trợ kinh phí nhưng đến khi quyết toán thì chỉ nhận được mức quyết toán của một đơn vị nghệ thuật công lập, không đủ trang trải. Thực trạng chung Nhà báo, nhà nghiên cứu phê bình Ngô Ngọc Ngũ Long làm rõ hơn thực trạng hiện nay với những ví dụ ở điện ảnh và âm nhạc. Với điện ảnh, các rạp chỉ tụ tập chiếu phim ngoại, còn phim nội dù giải vàng, giải bạc đều bị từ khước hay chỉ chiếu 1-2 suất cho có. Lý do đơn giản là lợi nhuận và cũng vì lợi nhuận khi làm phim trong nước, để lôi cuốn khán giả, nhà sản xuất chỉ chăm bẳm vào nguyên tố giải trí, xem nhẹ nội dung. Ở âm nhạc, hiện bất cứ một chương trình nào cũng có nhà tài trợ và để quảng bá thương hiệu, các nhà tài trợ đã gây sức ép để ưu tiên các loại nhạc thị trường, từ đó tạo nên sự mất thăng bằng trầm trọng trong thưởng thức âm nhạc hiện thời. Việc quản lý gần như buông xuôi, để mặc âm nhạc, điện ảnh tự trôi nổi. Chủ toạ Hội Điện ảnh TPHCM Dương Cẩm Thúy lại có một minh họa khác, vấn đề không chỉ ở khâu quản lý mà còn ở cả cách đối xử, quan tâm. Liên hoan phim quốc gia là nơi để người làm phim gặp nhau, xem phim của nhau, bàn bạc nghề nghiệp… nhưng người làm phim lại không được mời, thậm chí vé xem phim cũng không có, trong khi ban tổ chức dồn các học trò cấp 2 đi xem cho đầy rạp. Đối với người làm phim tệ đến vậy là cùng. Một vấn đề nữa được nêu lên là sự thiếu quy hoạch, quan hoài trong đào tạo. Họa sĩ, Nhà giáo dân chúng Uyên Huy nêu thực trạng giảng dạy nghệ thuật như hiện giờ, mảng tri thức căn bản vẫn chỉ dạy trường phái ấn tượng vốn có từ cuối thế kỷ 19, còn trên 20 trường phái nghệ thuật hiện đại sau đó, rồi hệ thống hậu hiện đại… đều bỏ trống, tạo nên một lỗ hổng kiến thức lớn. Rồi quyết nghị Trung ương 5 - khóa 8 nêu rõ bảo vệ và phát huy bản sắc truyền thống nhưng trong các trường mỹ thuật Việt Nam lại không có khoa mỹ thuật truyền thống, điều mà các nước phụ cận như Lào, Campuchia, Thái Lan… đã làm từ lâu. Việc phát triển văn hóa hiện đại làm sao tiến hành khi hệ thống Nhà hát, bảo tàng còn lạc hậu. Nghĩa vụ và vai trò Trước sự nhiễu loạn của VHNT hiện, bà Ngô Ngọc Ngũ Long cương trực nêu ra căn do lớn nhất là do “chưa có hành lang pháp lý rõ ràng và nghiêm minh”. Giữ gìn và phát triển nền văn hóa tiên tiến, thắm thiết bản sắc dân tộc không chỉ là khẩu hiệu mà còn phải được thực thi bằng chiến lược bảo vệ văn hóa trên cơ sở xây dựng pháp luật về văn hóa cũng như tương trợ các lĩnh vực văn hóa trong nước. Như Hàn Quốc đã buộc các rạp chiếu phim phải chiếu phim nội địa ít ra 106 ngày trong năm, Pháp quy định cụ thể tần suất phim nội địa trên truyền hình… Nếu cứ xem nhẹ, buông lỏng cho thị trường tự do thì hệ quả thế tất chẳng thể lường trước được. Bà Dương Cẩm Thúy đặt vấn đề: “… Ta thử đặt ra vài câu hỏi thôi: thanh niên hiện làm gì sau giờ học, cần lao? Tại sao ta để phim Hàn Quốc, Trung Quốc chan chứa màn ảnh truyền hình của ta? Tại sao lại để một số phim Việt Nam kém chất lượng chiếm những giờ vàng, có hàng triệu khán giả xem, trong đó có thiếu nhi? Và khi đáp được những câu hỏi đó, có khi ta sẽ có một chiến lược lớn, toàn diện để phát triển VHNT nước nhà”. TƯỜNG VY |