Nhưng chúng tôi đã đãi Ni-si một bữa no với những món ăn dân dã như thế", ông Nguyễn Văn Nhung nhớ lại. Nhiều nhà khoa học Việt Nam, bạn bè anh cũng như dân làng Kim Lan cho rằng cần phải có một sự tôn vinh xứng đáng với 20 năm nghiên cứu, làm việc vì Việt Nam và tình ái lớn anh đã dành cho đất nước này. Người dân Kim Lan thấy rất nhiều mảnh gốm vỡ lộ ra. Người dân thường nghĩ các nhà khoa học là những người mặc đồ sáng mầu, đi lại chỉ đạo, còn công nhân mới là người trực tiếp khai quật.
Người ta vẫn nghĩ, Kim Lan ở cạnh Bát Tràng, nên chỉ "ăn theo" nghề gốm Bát Tràng mà thôi. Những hiện vật khảo cổ còn cho biết một Thông tin quan yếu: Muộn nhất là từ thế kỷ 13, tại đây đã hình thành trung tâm sinh sản gốm sứ lớn. Không ai có thể quên hình ảnh một nhà khoa học, nhưng bùn đất lấm bê bết từ đầu đến chân mỗi khi có cuộc khai quật khảo cổ. Bẵng đi một thời kì, tưởng không có phúc đáp, thì đột ngột một Đoàn cán bộ của Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Lịch sử quốc gia tìm về Kim Lan.
Ông thể hiện rất chi tiết kích cỡ, mầu sắc, mẫu mã của những hiện vật tiêu biểu.
Đất Kim Lan nằm bên bờ tả sông Hồng. Tại đây, trưng bày khoảng 300 hiện vật, cốt là gốm và các dụng cụ làm gốm, minh chứng cho kí vãng huy hoàng của một làng nghề. Người Kim Lan xưa có câu "vo gạo bằng rổ, mổ cá bằng gai". Khi nhận thấy những giá trị cổ vật ở Kim Lan cần được giới thiệu đến với công chúng, nhóm "Tìm về cỗi nguồn của làng" đã đề xuất với chính quyền việc xây dựng một Bảo tàng nhỏ.
Ông phân loại những hiện vật thu được làm bốn nhóm: tiền cổ; bia và gạch có minh văn; gạch ngói; sành, gốm sứ.
Các hiện vật gốm có niên đại từ thế kỷ 8 cho đến thế kỷ 18 xuất hiện với mật độ dày đặc. Ông miêu tả rành mạch không khác gì một vắng khoa học về khảo cổ. Anh đã mất trong một tai nạn liên lạc trước đó hai tháng.
Đầu năm 2000, ông Nguyễn Văn Nhung thay mặt nhóm viết thư gửi Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội), đề xuất nghiên cứu về những mảnh gốm vỡ. Những mảnh gốm vỡ kể chuyện ngàn năm Kim Lan là làng gốm cổ. Đọc lại bản đề xuất này, hẳn nhiều người sẽ rất ngỡ ngàng trước cách thể hiện của "nhà nghiên cứu làng" Nguyễn Văn Nhung.
Sản phẩm ở đây gần như đại diện cho lịch sử gốm sứ Việt Nam, với đủ các loại hình gốm đất nung cho đến gốm tráng men. Dù cái lành thì hiếm, cái vỡ thì nhiều, nhưng từ đống gốm vỡ này, các nhà khoa học đã vào cuộc.
Trong số này có cả những sản phẩm kỹ thuật cao, xưa kia được xếp vào loại chỉ dành cho người quyền quý. Người Kim Lan nghe vậy mà thấy chạnh lòng.
Bộ sưu tập trong nhà ông cứ ngày càng dày lên. Muốn tìm hiểu về lịch sử gốm Kim Lan, dĩ nhiên, ai cũng phải tìm đến những thành viên nhóm "Tìm về nguồn cội của làng".
Từng là Quản đốc phân xưởng của hiệp tác xã gốm Bát Tràng, ông Hồng nhận ra những nét đặc biệt của các mảnh gốm ấy. Vo gạo bằng rổ, tức thị chúng tôi ăn ngô, mổ cá bằng gai, vì cá rất nhỏ.
Ông Lanh kể lại: "Tôi vẫn nhớ lần đầu Ni-si về Kim Lan là ngày 22-4-2000. Cũng chính anh ấy cung cấp cho chúng tôi các tài liệu để tham khảo, tra khảo. Khi khai quật ở các địa phương khác, Ni-si thường đem các tài liệu về để chúng tôi có thể so sánh gốm cổ Kim Lan với nghề gốm các nơi". Ni-si rất thạo tiếng Việt, hòa đồng với mọi người.
Thế rồi năm ông lão trong làng quan tâm tới những mảnh gốm cổ đó quyết định cùng nhau "tìm về nguồn cội của làng" và đó cũng là tên gọi của nhóm những "nhà nghiên cứu chân đất" của Kim Lan, gồm: Nguyễn Văn Nhung, Nguyễn Việt Hồng, Nguyễn Văn Viện, Nguyễn Tiến Cung và Nguyễn Văn Lanh. Nổi trội là các dòng gốm tráng men, có các hiện vật trải từ đời Lý cho đến cuối đời Lê, với đặc trưng là các mầu men như: men lục, men ngọc, men nâu, hoa lam.
Bí ẩn về những mảnh gốm vỡ đã được làm sáng tỏ. Nhóm "Tìm về cội nguồn của làng" mang những bao tải gốm tích tụ lâu nay cho cán bộ xem.
Tháng 8-2013, nhóm "Tìm về cỗi nguồn của làng" và nhà khảo cổ học Ni-si-mu-ra Ma-na-sa-ki được trao giải Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội cho những đóng góp của nhóm và nhà khảo cổ người Nhật với cộng đồng.
Khi được hỏi làm thế nào để các cụ có vốn kiến thức như thế, ông Nguyễn Văn Lanh tâm tình: "Chúng tôi có thực tại nghề gốm, chúng tôi nắm vững kỹ thuật nghề.
Cụ thể, anh ấy chỉ dẫn chúng tôi khi thu được các hiện vật thì phân loại thế nào, đánh số ra sao, cách thẩm định niên đại. Ni-si rất tò mò về phong tục này. Tình của anh với giang san Việt Nam đã kết tinh thành những công trình, những mỏng khoa học anh đóng góp cho khảo cổ Việt Nam, mà bảo tồn Kim Lan chỉ là một ví dụ. Thấy trong đoàn cán bộ khảo cổ có một cán bộ người Nhật, tôi tưởng anh ấy đến tham quan rồi về.
"Mặc dù có nhiều nhà khoa học về Kim Lan, nhưng không có ai như Ni-si cả. Với người Kim Lan cũng như giới khảo cổ Việt Nam, Ni-si không còn, nhưng những nghiên cứu khảo cổ của anh về Việt Nam sẽ vẫn còn đấu bởi những đồng nghiệp, những học trò của anh, và cả những người bạn nhiệt huyết như nhóm "Tìm về nguồn gốc của làng".
Vẫn cùng người dân Kim Lan tìm tòi, khám phá. Ni-si còn có tên tiếng Việt là Lý Văn Sỹ.
Mỗi người đều đã tự học hỏi thêm "nghiệp vụ" nghiên cứu, để có thể tìm hiểu sâu hơn về gốm cựu truyền, vốn là mảng kiến thức gần như bất tận.
Chúng tôi phát hiện, sưu tầm những mảnh gốm. Mỗi người trong số ấy bữa nay đều đã là một "nhà nghiên cứu", một "nhà khảo cổ" kiêm một "hướng dẫn viên" của làng Kim Lan.
Nhưng vướng mắc lớn nhất là kinh phí. Những băn khoăn về gốm cổ của ông Hồng nhận được sự san sớt của nhiều người. Nhưng chỉ hơn mười năm trước, nếu ai đó nói như vậy hẳn sẽ bị chê cười.
Ai ngờ, anh ấy đã thành một người con của làng Kim Lan. Đấy là vì thời xưa đói kém quá. Bài và ảnh: CHÍ DŨNG. Khi Kim Lan chính thức được xác nhận là làng gốm cựu truyền, bãi Hàm Rồng được công nhận là một di chỉ khảo cổ học, người ta vẫn thấy Ni-si về làng.
Xong việc là ngồi bệt cùng bà con Kim Lan ngơi nghỉ, có gì ăn nấy, hồn nhiên như người sinh ra ở đây.
Mỗi mùa nước lên, bờ sông Hồng lại sạt lở dần. Sau này khi Ni-si thành thân, vợ anh, chị Ni-si-mu-ra No-ri-ko, một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, cũng vậy.
Người Kim Lan rất kiêu hãnh khi Ni-si nhận đây là quê hương thứ hai, và mọi người vẫn hay kể cho nhau nghe câu chuyện, có lần đi dự hội thảo nước ngoài, khi được hỏi, Ni-si đã nói rằng: Tôi là Lý Văn Sỹ, tôi đến từ Việt Nam.
Từ năm 2001 đến 2003, các nhà khoa học thuộc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Viện Khảo cổ học đã tiến hành ba đợt khai quật khảo cổ trên bãi Hàm Rồng (nơi các ông lão làng Kim Lan vẫn nhặt cổ vật).
Tổng số tiền quyên được là 30 nghìn USD. Còn Ni-si luôn làm việc quần quật từ sáng đến tối cùng công nhân trong các hố khai quật. Mấy chục năm rồi không ai còn chế biến những món ăn ấy. Chúng tôi muốn lập phòng trưng bày về gốm Kim Lan nhưng không có tiền. Từ tình yêu với gốm, mối quan hệ giữa anh và người dân Kim Lan đã trở thành gắn bó như ruột rà.
Nhờ thế, chúng tôi mới chứng minh được Kim Lan từng là một trọng điểm gốm cổ. Còn người dạy chúng tôi về chuyên môn khảo cổ là nhà khảo cổ học Nhật Bản Ni-si-mu-ra Ma-na-sa-ki. Nhưng chính những người am hiểu sử làng cũng chẳng thể tìm ra bằng chứng.
Người cao tuổi nhất là ông Nguyễn Văn Nhung, sinh năm 1932, "trẻ" nhất là ông Nguyễn Văn Lanh, nay cũng đã ngoài 60. Khó có thể tả nỗi mừng của những thành viên nhóm "Tìm về nguồn cội của làng". Ni-si chính là người quyên góp vật chất để xây Bảo tàng".
Tháng 3-2012, Bảo tàng Khảo cổ học cộng đồng đã được khánh thành, Ni-si chính là người vẽ thiết kế tòa nhà, anh cũng trực tiếp viết lời giới thiệu, thẩm định niên đại của từng cổ vật trong Bảo tàng.
Tại sao lượng gốm tụ hội ở bãi sông nhiều đến vậy? Đặc biệt, trong nhóm có hai thành viên từng là Quản đốc của hiệp tác xã Gốm Bát Tràng, họ nhận ra có những cổ vật thu được chỉ tồn tại ở những trung tâm sản xuất gốm sứ, đó là bao nung (một vật dụng dùng để bao lấy sản phẩm gốm khi nung trong lò), những phế phẩm từ quá trình sản xuất gốm như chồng bát dính liền nhau, những chiếc bát cổ chưa nung chín.
Các nhà khoa học kết luận, Kim Lan là địa bàn có dân cư trú ngụ lâu đời, từ khoảng thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên.
Khi khuất, gia đình Ni-si đã quyết định để anh nằm lại Việt Nam, tại chính làng cổ Kim Lan, nơi anh coi là quê hương thứ hai. Nhưng người dân Kim Lan vẫn thường gọi anh bằng cái tên thân mật Ni-si.
Nhiều năm cóp nhặt những mảnh gốm vỡ, để rồi còn bị tiếng là là "cám hấp", cuối cùng, họ đã góp phần làm minh bạch lịch sử làng, góp phần làm rõ hơn lịch sử một trung tâm gốm và nghề gốm Việt Nam.
Rất nhiều câu hỏi đặt ra khi nhóm nghiên cứu ngồi lại với nhau: Những mảnh gốm sứ tại bãi sông Hồng gồm rất nhiều chủng loại, từ gốm đất nung, cho đến gốm tráng men, trong gốm tráng men lại có nhiều loại men khác nhau, từ men ngọc đời Lý cho đến gốm hoa lam đời Lê.
Ở Kim Lan, gần như người dân nào cũng có thể kể những câu chuyện về anh người Nhật mang họ Lý này (đọc chệch từ Ni-si). Tiếc rằng, Ni-si đã không có mặt trong lễ nhận giải. Còn Ni-si là người có công đầu trong việc bắt mảnh gốm "kể chuyện". Kết tinh của tình bảo tồn Khảo cổ học cộng đồng Kim Lan tọa lạc ngay gần UBND xã Kim Lan. Về làng, là coi mình như người Kim Lan.
Người trước hết, cũng là người hay ra bờ sông gom nhóp những mảnh gốm vỡ nhất là ông Nguyễn Việt Hồng. Đó chính là cổ vật. Là một nhà khoa học, bởi vậy điều kiện kinh tế của Ni-si cũng hạn chế, anh đã vận động bạn bè là các thương lái Nhật Bản quyên ủng hộ Kim Lan.